Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Nguồn của Luật Dân sự

 Nhận biết được khái niệm nguồn của luật dân sự.

Nguồn của luật dân sự là những văn bản qui phạm pháp luật dân sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự và thủ tục nhất định, có chứa đựng các qui tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

Muốn được coi là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng các yêu cầu:

- Phải là văn bản qui phạm pháp luật dân sự, tức là phải chứa các qui tắc xử sự chung để điều chỉnh quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự
- Văn bản qui phạm pháp luật dân sự đó phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật dân sự phải theo một trình tự, thủ tục nhất định

4.2 Phân loại

Các căn cứ để phân loại nguồn của luật dân sự:

- Căn cứ vào cơ quan ban hành: văn bản do Quốc hội ban hành, văn bản do UBTVQH ban hành, văn bản do Chính phủ ban hành …
- Căn cứ vào nội dung quan hệ xã hội được điều chỉnh trong văn bản qui phạm pháp luật được coi là nguồn của luật dân sự: các văn bản pháp luật về sở hữu, các văn bản pháp luật về hợp đồng, các văn bản pháp luật về thừa kế
- Căn cứ vào hình thức hệ thống văn bản qui phạm pháp luật được coi là nguồn của luật dân sự gồm: hiến pháp, bộ luật dân sự, các luật và văn bản dưới luật

4.2.1 Hiến pháp

Những nội dung của HP liên quan trực tiếp đến Luật dân sự là Chương II (chế độ kinh tế) và Chương  V (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân)

Dù chỉ là những qui định mang tính nguyên tắc, tính định hướng  nhưng hiến pháp 1992 được coi là nguồn cơ bản và quan trọng nhất của Luật dân sự.

4.2.2 Bộ luật dân sự

BLDS 2005 được kết cấu 7 phần, 36 chương, 777 điều

- Phần thứ nhất: Những qui định chung; xác định phạm vi điều chỉnh cảu BLDS, nguyên tắc của LDS, địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình với tư cách là chủ thể khi tham gia các quan hệ dân sự

- Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu; bao gồm các qui định về nguyên tắc cơ bản của quyền sở hữu, các loại tài sản, các hình thức sở hữu, căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu,  bảo vệ quyền sở hữu, và những qui định khác về quyền sở hữu.

- Phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; bao gồm các qui định chung, các hợp đồng dân sựu thông dụng, nghĩa vụ ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Phần thứ tư: thừa kế; qui định việc dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống

- Phần thứ năm: Những qui định về quyền sử dụng đất; gồm những qui định chung, những hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất

- Phần thứ sáu: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

- Phần thứ bảy: Quan hệ dân sựu có yếu tố nước ngoài; gồm những qui định về thẩm quyền áp dụng và pháp luật được áp dụng khi giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài.

4.2.3 Các luật và nghị quyết của quốc hội

Các luật được coi là nguôn của luật dân sự:

- Luật hôn nhân và gia định năm 2000
- Luật đất đai 2003
- Luật thương mại 2005
- Luật sở hữu trí tuệ 2005
- Luật doanh nghiệp 2005
- Luật các công cụ chuyển nhượng
- Luật khoáng sản
- Luật bảo vệ và phát triển rừng
- Luật tài nguyên nước …

Ngoài BLDS và các luật, NQ của Quốc hội do QH ban hành, có hiệu lực như văn bản pháp luật

4.2.4 Các văn bản dưới luật

- Pháp lện của UBTVQH được ban hành để giải thích, hướng dẫn những qui định của BLDS hoặc qui định những nội dung mà luật chưa đủ điều kiện để qui định
- Nghị định của Chính phủ có vai trò là nguồn bổ trợ trực tiếp của LDS

- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành để hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét